Showing posts with label Mẹo vặt. Show all posts
Showing posts with label Mẹo vặt. Show all posts

Kết nối hai máy tính bằng cáp USB

Có một cách rất dễ dàng để kết nối hai máy tính bằng sử dụng cáp USB-USB. Với kết nối này bạn hoàn toàn có thể truyền tải các file từ máy tính này sang máy tính khác, và thậm chí còn có thể xây dựng một mạng nhỏ để chia sẻ kết nối Internet với máy tính thứ hai. Trong hướng dẫn này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn cách kết nối hai máy tính bằng loại cáp này.

Thứ đầu tiên mà bạn cần biết trong cách kết nối này là có nhiều kiểu cáp USB-USB khác nhau hiện đang có trên thị trường. Kiểu được sử dụng để kết nối hai máy tính gọi là “bridged” (hoặc cáp mạng USB – “USB networking cable”), vì nó có một mạch điện tử nhỏ nằm ở giữa, mạch điện tử này sẽ cho phép hai máy tính có thể trao đổi với nhau. Ngoài ra còn có một cáp vẫn được gọi là A/A USB, mặc dù nó có hai giắc USB chuẩn ở mỗi một đầu xong không có Chip cầu nối và như vậy không thể được sử dụng để kết nối giữa hai máy tính. Trong thực tế, nếu bạn sử dụng cáp A/A thì có thể “burn” các cổng USB của các máy tính hoặc thậm chí cả các phần cung cấp nguồn của chúng. Chính vì vậy, các cáp A/A gần như không có nhiều tác dụng. Cáp A/A chỉ được sử dụng để kết nối máy tính của bạn với các thiết bị ngoại vi như máy in hoặc máy quét, chính vì vậy chúng cũng không hợp với những nhu cầu của bạn trong chủ đề này.


Hình 1: Cáp cầu nối USB-USB



Hình 2: Cầu nối giữa cáp


Về mặt tốc độ, chip cầu nối có thể là USB 1.1 (12 Mbps) hoặc USB 2.0 (480 Mbps). Chính vì vậy chúng tôi đề nghị bạn nên mua một cáp cầu nối USB 2.0 vì tốc độ của nó. Hãy nhớ rằng, mạng Ethernet chuẩn làm việc ở tốc độ 100 Mps, chính vì vậy cáp USB 2.0 sẽ cung cấp cho bạn một tốc độ truyền tải cao gần gấp 5 lần kết nối mạng chuẩn.

Bên trong cầu nối của cáp có một Chip cầu nối và đó là lý do tại sao nó đắt hơn nhiều so với một cáp A/A đơn giản không có các mạch cầu nối nằm ở giữa.


Hình 3: Chip cầu nối


Lúc này bạn đã biết được kiểu cáp nên mua cho việc kết nối này, chúng ta sẽ nói về vấn cài đặt dưới đây.

1. Cài đặt:
Cáp này có thể làm việc trong hai chế độ: chế độ liên kết và chế độ mạng. Trong chế độ liên kết, nó chỉ làm việc giống như các cáp “lap link” cũ, nghĩa là nó cần một phần mềm để bạn có thể chọn các file và kéo thả chúng vào chỗ bạn muốn chuyển hay copy đến hoặc từ máy điều khiển từ xa. Nếu bạn chỉ muốn copy các file thì đó chính là chế độ mà chúng tôi khuyên bạn nên sử dụng, vì nó dễ hơn và nhanh hơn trong cả việc cài đặt lẫn sử dụng.

Trong chế độ mạng, bạn sẽ tạo một mạng nhỏ giữa hai máy tính. Sau khi tạo mạng này, bạn có thể chia sẻ file, máy in và truy cập Internet. Chế độ này được khuyến khích nếu bên cạnh việc copy các file, bạn muốn truy cập vào một máy in nào đó nằm trên một máy tính khác (hoặc bất kỳ máy tính nào trên mạng, nếu máy tính đó được kết nối với mạng) hoặc muốn truy cập Internet.

Quá trình cài đặt cáp này tuỳ thuộc vào nhà sản xuất cáp. Bạn cần phải cài đặt các chương trình và các driver đi kèm với cáp trên đĩa CD-ROM. Thủ tục này phải được thực hiện trên cả hai máy tính khi chưa cắm cáp.

Chính vì vậy bạn không được lắp đặt cáp trước, hãy để nó đó.

Một số nhà sản xuất đưa ra hai file cài đặt khác nhau, một cho chế độ liên kết và một cho chế độ mạng. Một số nhà máy sản xuất khác chỉ đưa ra một file cài đặt hợp lệ cho cả hai chế độ. Sau đó bạn cần phải chọn chế độ mà bạn muốn sử dụng trong quá trình cài đặt hoặc bên trong chương trình truyền tải sẽ được cài đặt.


Hình 4: Chọn chế độ trong quá trình cài đặt


Hình 5: Chọn chế độ bên trong chương trình truyền tải


Sau khi cài đặt các driver tương ứng (chế độ liên kết và chế độ mạng), bạn cần cắm cáp vào máy tính. Windows sẽ nhận ra nó và cài đặt đúng driver.

Nếu bạn đã cài đặt chương trình và driver khi cáp đã được gắn với máy tính thì cần phải remove nó khỏi máy tính và cài đặt lại. Thao tác này sẽ làm cho Windows nhận ra và cài đặt driver của nó.

Lặp lại thủ tục này cho máy tính thứ hai.

Nếu bạn muốn thay đổi chế độ cáp làm việc thì cần chạy chương trình cài đặt cho chế độ khác hoặc chọn thay đổi chế độ trong chương trình truyền tải, phụ thuộc vào model của cáp. Thủ tục này cần thực hiện khi không có cáp được gắn với máy tính từ trước. Sau khi thay đổi chế độ, bạn cài đặt lại cáp và hệ thống sẽ nhận ra nó một cách tự động. Nếu bạn chạy chương trình cài đặt hoặc thay đổi chế độ với cáp đã gắn trước thì hãy tháo cáp khỏi máy tính và cài đặt nó lại để làm cho Windows cài đặt đúng các driver (driver đã sử dụng trong chế độ liên kết và chế độ mạng là hoàn toàn khác nhau). Bạn cần lặp lại quá trình này cho máy tính khác.

Lúc này cáp đã được cài đặt, hãy xem cách sử dụng nó trong cả hai chế độ như thế nào

2. Chế độ liên kết (Link Mode)
Như chúng tôi đã đề cập, chế độ liên kết là cách đơn giản và nhanh nhất để kết nối hai máy tính bằng cáp USB cho việc truyền tải các file trên đó. Nếu bạn muốn truy cập Internet hoặc truy cập vào máy in thì cần thực hiện trong chế độ mạng.

Sau khi cài đặt cáp như đã mô tả ở phần trên, bạn cần kiểm tra xem cáp đã được cài đặt đúng trong Device Manager (kích chuột phải vào My Computer > Properties > Hardware > Device Manager) hay chưa. Nó cần phải được liệt kê trong “Universal Serial Bus controllers”, xem hình 6 (cáp trong ví dụ này đã được liệt kê với tên “Hi-Speed USB Bridge Cable”, nhưng cáp của bạn có thể sử dụng một tên khác).


Hình 6: Cáp USB-USB đã được cài đặt đúng bằng chế độ liên kết


Để truyền tải các file, bạn cần mở chương trình truyền tải đã được cài đặt khi chạy file cài đặt. Chương trình của chúng tôi là PClinq2, đây là chương trình cần được mở trên cả hai máy tính.

Cách sử dụng chương trình truyền tải này cũng rất dễ dàng. Trong phần bên trái của nó, bạn sẽ thấy tên máy tính và trên phần bên phải bạn sẽ thấy máy tính điều khiển xa. Chỉ cần chọn drive/partition và folder/files mà bạn muốn truyền tải và kéo chúng vào phần mong muốn. Không còn gì dễ dàng hơn!


Hình 7: Chương trình truyền tải


3. Chế độ mạng (Network Mode):
Như chúng tôi đã đề cập, trong chế độ mạng, các máy tính sẽ được liên kết thành một mạng nhỏ và kết nối sẽ làm việc giống như một mạng. Chế độ này cho phép bạn có thể chia sẻ kết nối Internet.

Sau khi cài đặt cáp như được mô tả ở trên, bạn cần phải kiểm tra xem cáp đã được cài đặt đúng với tư cách là một adapter mạng trong Device Manager (kích chuột phải vào My Computer > Properties > Hardware > Device Manager) hay chưa. Nó phải được liệt kê trong phần “Network adapters”, như trong hình 8 (cáp trong ví dụ có tên “Hi-Speed USB-USB Network Adapter”).


Hình 8: Cáp USB-USB được cài đặt đúng bằng sử dụng chế độ mạng


Bước tiếp theo là cấu hình cả hai máy tính để sử dụng cáp USB như một adapter mạng.

Trước tiên bạn phải cấu hình máy tính có truy cập Internet. Trong máy tính này, bạn hãy mở Network Connections (Start > Settings > Network Connections) khi đó bạn sẽ thấy có các adapter mạng nằm trên máy tính. Trong máy tính của chúng tôi “Local Area Connection” là adapter mạng đã kết nối với máy tính với Internet (đến router băng thông rộng) và “Local Area Connection 2” là cáp USB-USB, xem trong hình 9.


Hình 9: Các kết nối mạng


Kích chuột phải vào card mạng đang kết nối máy tính của bạn với Internet (trong trường hợp này là “Local Area Connection”), chọn Properties và trên cửa sổ xuất hiện, kích vào tab Advanced. Ở đây bạn hãy tích vào hộp kiểm “Allow other network users to connect through this computer’s Internet connection”. Tuỳ thuộc vào phiên bản Windows XP mà sẽ có một menu “Home networking connection”, ở đây bạn cần phải chọn kết nối cáp USB (trong trường hợp này là “Local Area Connection 2”).


Hình 10: Cho phép chia sẻ Internet


Sau khi đã thực hiện xong cấu hình này, bạn phải khởi động lại máy tính. Sau khi khởi động lại máy tính, mọi thứ sẽ làm việc tốt. Bằng cách duyệt mạng từ một máy tính khác để xem mọi thứ có chạy tốt hay không.

Để chia sẻ file và máy in, bạn có thể đọc hướng dẫn của chúng tôi về cách chia sẻ file và máy in trong mạng. Nếu bạn không sử dụng router băng thông rộng trên máy tính có kết nối Internet thì phải rất cẩn thận vì việc chia sẻ có thể vô tình lại làm cho bất cứ ai đó trên Internet cũng có thể truy cập đến các file của bạn.

Nếu máy tính điều khiển xa không thể truy cập vào Internet, bạn hãy kiểm tra xem cáp USB có được cấu hình địa chỉ IP một cách tự động hay không. Vào Start > Settings > Network Connections, kích chuột phải vào kết nối cáp (“Local Area Connection 2”), chọn Properties sau đó trên cửa sổ mới xuất hiện bạn kích đúp vào “Internet Protocol (TCP/IP)”. Cả hai tùy chọn có trong màn hình này sẽ hiển thị với những thiết lập tự động “automatically”, như trong hình 11. Cả hai máy tính cần phải cùng được cấu hình như vậy.


Hình 11: Cấu hình TCP/IP cần phải được thiết lập tự động cho cả hai máy tính

WinBuilder và các dự án liên quan đến WinPE

Windows Preinstallation Environment (WinPE) có thể được coi là một bản đơn giản của Windows XP/2003/Vista. WinPE có nhiều phiên bản, các phiên bản này tương ứng với hệ điều hành Windows XP/2003/Vista. WinPE 1.0, 1.1 có trong XP Professional, và XP Professional Service Pack 1; WinPE 1.2 có trong Windows 2003 Server; WinPE 1.5 (WinPE 2004) có trong bản XP Service Pack 2; WinPE 1.6 (WinPE 2005) có trong bản Windows Server 2003 Service Pack 1. Và bản WinPE 2.0 mới nhất có trong Vista.

Có một số công cụ cho phép trích lấy WinPE từ các đĩa cài của hệ điều hành Windows XP/2003/Vista như PEBuilder, WinBuilder. WinBuilder là một chương trình miễn phí cho phép tạo các đĩa khởi động dựa trên WinPE từ bộ cài XP/2003/Vista. WinBuilder có khá nhiều dự án liên quan đến WinPE các bản 1.5, 1.6, 2.0 như VistaPE, LiveXP, NativeEx, NativePE, PicoXP cho phép tạo đĩa khởi động chạy môi trường WinPE có kích thước từ 16MB đến 300MB hoặc cao hơn. WinBuilder sử dụng một script engine cho phép chạy các file script và chèn chương trình vào WinPE để đĩa khởi động có thêm các chương trình cần thiết.

Việc sử dụng WinBuilder tương đối phức tạp, nên bài viết sau đây sẽ đơn giản cách sử dụng để người đọc có thể tự mình làm được các đĩa khởi động WinPE 1.5 từ đĩa cài XP, WinPE 2.0 từ đĩa cài Vista.

Yêu cầu chung:
- WinBuilder có thể chạy trên các hệ điều hành Windows thông dụng hiện nay Windows 2000/XP/2003 và Vista.
- Internet Explorer bản 5.0 trở lên để sử dụng được các tab trong chương trình.
- Kết nối Internet (để download các script cần thiết).
- Với Vista, yêu cầu bỏ chế độ UAC (User Account Control)

Download: Phiên bản hiện thời là bản 0.74 (834Kb) có thể download theo link sau:
Link: http://winbuilder.net/e107_files/downloads/WinBuilder074.zip

Phần 1: Sử dụng WinBuilder
Các bước để tạo một đĩa khởi động với WinBuilder có thể mô tả ngắn gọn như sau:
- Download một project, hoặc script trong project. Nếu đã download rồi, có thể bỏ qua bước này.
- Lựa chọn máy ảo để kiểm tra file iso sau khi tạo.
- Lựa chọn thư mục chứa bộ cài của Windows XP/Vista.
- Chạy thử lần lượt các script.
- Chạy WinBuilder tạo file iso.
- Kiểm tra log khi gặp lỗi.

a. Download một project
Sau khi download file WinBuilder, giải nén vào một thư mục Giả sử D:\Winbuilder. Chạy file WinBuilder.exe. Giao diện của WinBuilder như hình dưới.



WinBuilder - tab Download

Khi mới chạy WinBuilder chưa có project nào, cần phải chọn tab Download. Trong tab Download có tab con là Servers chứa các thông tin về các server chứa project. Cần lưu ý các thông tin sau:

- Mục Available Web Servers là đường dẫn đến các server trên mạng chứa các project tương ứng. Ví dụ muốn sử dụng NativePE, chọn đường dẫn thuun.boot-land.net/WinBldr/XP-2K3/Projects. Có thể thêm Server bằng cách nhắp nút dấu cộng (+). Nên chọn từng project, không nên chọn nhiều project trong mục này.

- Với mỗi project, có 04 lựa chọn là: Minimum, Recommended, Complete và Beta. Các lựa chọn này tương ứng chọn sẵn các file trong project. Đối với người mới sử dụng, đầu tiên nên chọn Minimum (hoặc có thể chọn Recommended), sau khi thử tạo đĩa khởi động với lựa chọn đó và đĩa khởi động hoạt động thành công, khi đó mới nên chọn tiếp các thành phần khác.

Sau khi chọn project và chọn mức Minimum, nhắp nút download để tiến hành download project. Khi việc download kết thúc, WinBuilder sẽ có thêm 01 tab nữa là tab Scripts.

b. Tab Scripts
Tab Scripts có cấu trúc dạng cây, ở mục gốc chứa tên project. Có thể có nhiều project như NativePE, LiveXP, VistaPE,... Mỗi prorect này tương ứng với một thư mục trên ổ cứng, trong ví dụ này là thư mục D:\WinBuilder\ Projects\NativePE. Với mỗi project, nhắp đúp vào, sẽ xuất hiện các thư mục con bên trong. Các file script là file cuối cùng của cấu trúc cây. Tab Scripts ngoài cấu trúc cây dịch vụ, phía bên phải còn có các tab con là Script, Paths, Log, Code Box.

Theo nguyên tắc nên chọn đến từng file script để có thể kiểm tra việc nó được thêm vào WinPE như thế nào.



WinBuilder - tab Scripts

Trong hình WinBuilder - tab Scripts trên, ví dụ mở script Opera 8.54, sẽ xuất hiện các thông tin tương ứng ở tab con là Script. Trong tab con Script này, cần chú ý đến 02 lựa chọn là Play và Edit. Lựa chọn Play cho phép chạy thử một script trước khi tạo đĩa. Lựa chọn Edit cho phép chỉnh sửa một script.

Chú ý:

- Tùy theo script do người thiết kế tạo ra mà có thêm các file cần thiết phải download trên mạng. Ví dụ như Mozilla Firefox. Khi đó nên lựa chọn Play để thử script trước.
- Để chạy thử một script, cần chọn đường dẫn đến thư mục chứa bộ cài của hệ điều hành XP/2003/Vista.
- Không nên sử dụng script của project này cho project khác khi chưa được xác nhận sự tương thích.
- Không nên chỉnh sửa các thông tin liên quan đến project khi chưa hiểu rõ chúng.

c. VirtualTest
VirtualTest gồm một hoặc nhiều script được WinBuilder sử dụng để chạy thử file iso sau khi tạo. Tùy và project mà có thể có các project khác nhau. Thực chất script này cho phép gọi một máy ảo để chạy file iso trên máy ảo. Có 3 dạng máy ảo được hỗ trợ là: VirtualBox, QEMU, VMWare. Trong 3 dạng máy ảo này nên chọn VirtualBox. VirtualBox là một phần mềm máy ảo miễn phí, khá nhẹ và hiệu quả. Nên download và cài đặt VirtualBox trước khi sử dụng WinBuilder. Phiên bản hiện thời trên Windows là phiên bản 1.5.2 (16 MB), có thể download theo link sau:
Link: http://www.virtualbox.org/download/1.5.2/VirtualBox_1.5.2_Win_x86.msi

Bạn cũng có thể chạy máy ảo rồi chọn máy ảo đó khởi động từ file iso thay vì chạy qua script nói trên.



VirtualTest

Trong hình là script để kiểm tra file iso sau khi tạo với máy ảo VirtualBox.

d. Paths
Tab con Paths cho phép chọn đường dẫn đến bộ cài đặt XP/2003/Vista. Tùy theo project mà ta chọn bộ cài đặt tương ứng. Với project VistaPE, cần chọn đường dẫn đến bộ cài đặt Vista, các project khác nên chọn đường dẫn đến bộ cài XP.



Tab Scripts -> Paths

Trong tab con Paths, lựa chọn đường dẫn đến bộ cài đặt XP ở lựa chọn Source directory. Target là đường dẫn đến thư mục chứa project khi đã chạy WinBuilder. ISO là thư mục chứa các file iso sau khi tạo.

Có thể dùng chương trình để ghi các file iso này ra đĩa CD và khởi động từ đó, hoặc xem mục 6 để có thể tạo ổ USB khởi động được.

e. Chạy WinBuilder
Sau khi download project cần thiết, chọn đường dẫn tới thư mục chứa bộ cài, kiểm tra các file script, cấu hình máy ảo để kiểm tra file iso, bước cuối cùng là chạy chương trình WinBuilder. Để chạy chương trình này, nhắp vào nút Play (biểu tượng tam giác) trên cửa sổ chính của WinBuilder. Khi đó WinBuilde bắt đầu xây dựng và đóng gói file iso từ các script và nguồn của XP/Vista.



WinBuilder Progress

Thời gian xây dựng nói chung phụ thuộc vào số lượng scrip, loại project, nhưng nói chung mất khoảng 20-30 phút. Khi quá trình xây dựng file iso kết thúc, kết quả sẽ được file iso. File iso này nằm trong thư mục ISO và có tên tương ứng với tên của project (ngầm định). Ví dụ dùng project NativePE, tên file iso sẽ là NativePE.iso. Nếu có chọn máy ảo để kiểm tra như ở bước c, máy ảo đó sẽ tự động chạy.



Chạy thử file ISO với VirtualBox

Trong hình trên là giao diện của file iso chạy trên nền máy ảo VirtualBox.

f. Log
Nếu quá trình xây dựng file iso diễn ra thuận lợi và máy ảo chạy được file iso đó như ví dụ ở bước trên thì không có gì đáng nói. Tuy nhiên khi file iso đã được tạo nhưng máy ảo không khởi động thành công file iso đó thì việc đầu tiên là phải kiểm tra Log.



Log Window

Sau khi kết thúc việc tạo file iso, chọn tab Log. WinBuilder sẽ ghi tất cả các thông tin trong quá trình xây dựng file ISO và cho phép người dùng theo dõi các thông tin này qua các nhóm. Cần chú ý đến thông tin trong nhóm Error.

Với các script không chuẩn, bộ cài Windows không chuẩn đều có thể gây ra những lỗi này và file iso không sử dụng được. Theo dõi các thông tin trong log sẽ giúp tìm được nguyên nhân lỗi. Có thể giải quyết vấn đề theo các bước sau:

- Chọn bộ Windows chuẩn.
- Bớt đi các script không quan trọng. Có thể bỏ hẳn một mục chính, ví dụ như mục Apps, Drivers.
- Xóa các thông tin đã tạo ra trong các thư mục Target, Temp (chú ý một số project có chức năng Clean Project Temp).
- Chạy lại WinBuilder để tạo lại file iso và chạy thử trên máy ảo.

Nếu các bước trên vẫn không tạo được file iso chạy ổn định, cần xác nhận các thông tin sau để đưa lên diễn đàn: http://www.boot-land.net/forums/index.php

là diễn đàn có rất nhiều thông tin liên quan đến WinBuilder:

- log.html - save lại thông tin log.
- Phiên bản của chương trình WinBuilder đang sử dụng.
- Thông tin về hệ thống file của partition nơi lưu và chạy (FAT32 hoặc NTFS).
- Tên chương trình chống virus, spyware mà bạn đang sử dụng.

Khi sử dụng WinBuilder, việc gặp lỗi và file iso không khởi động được hay xảy ra. Ngay cả đối với người có kinh nghiệm, giải quyết các vấn đề đó cũng không dễ. Do đó người viết sẽ tạo sẵn một số project và cấu hình trước để có thể sử dụng được.

Có thể download các project này về và thực hiện công việc xây dựng file iso luôn mà không cần qua các bước cấu hình phức tạp. Tham khảo hướng dẫn chi tiết trong các project ở các mục bên dưới để biết cách sử dụng. Các project đó là: PicoXP, NativePE, LiveXP, VistaPE. Các project này được thử trên hệ thống:

- Hệ điều hành Windows XP; RAM 1GB
- Đĩa CD cài đặt Windows XP Service Pack 2 gốc. Trong project VistaPE, sử dụng đĩa cài đặt Vista.
- Máy ảo: VirtualBox sử dụng RAM ảo 384 MB.

Phần 2: Sử dụng PicoXP, NativePE, LiveXP

PicoXP

Mục đích của project PicoXP là tạo đĩa khởi động dựa trên hệ điều hành Windows tối thiểu (khoảng 15-16MB) với chế độ dòng lệnh. PicoXP được thiết kế để thay thế các đĩa khởi động dựa trên DOS với các ưu điểm là khả năng hỗ trợ ổ cứng dùng chuẩn SATA và sử dụng hệ thống file NTFS. PicoXP không có chế độ đồ họa (GUI). Có thể tham khảo các thông tin về project này theo link:
Link: http://picoxp.boot-land.net

Download: PicoXP_WinBuilder.rar (3.42 MB):
Link: http://www.mediafire.com/?5ot0bzjyymy

Các bước thực hiện:
- Giải nén file PicoXP_WinBuilder.rar, được thư mục PicoXP, trong thư mục này có thư mục Projects và file WinBuilder.exe. Copy thư mục PicoXP vào một thư mục, giả sử D:\WinBuilder.

- Chạy file WinBuilder.exe, xuất hiện giao diện quen thuộc của WinBuilder.



Project PicoXP

- Trong tab Scripts, chú ý các script được chọn là các script đã được thử nghiệm.

- Lựa chọn tab Path để chọn đường dẫn đến thư mục chứa bộ cài Windows XP SP2, ví dụ ổ Z. Sau khi chọn, nhắp biểu tượng Play để bắt đầu việc tạo file PicoXP.iso.

- Sau khi kết thúc việc tạo file Pico.iso, WinBuilder sẽ gọi máy ảo qEmu (có sẵn trong project này) để chạy thử. Nếu file iso được tạo thành công, qEmu sẽ chạy và giao diện chỉ có chế độ lệnh của PicoXP như hình PicoXP trên máy ảo qEmu.



PicoXP trên máy ảo qEmu

Nhận xét:
- File PicoXP.iso nằm trong mục ISO, có kích thước khá nhỏ khoảng 16 MB.

- PicoXP chỉ có giao diện là dòng lệnh nên không thuận tiện cho người sử dụng. Tuy nhiên ưu điểm của nó là gọn nhẹ (khi nén bằng Winrar còn khoảng 9MB) và hỗ trợ hệ thống file NTFS.

- Trong hình Project PicoXP, mục Finish -> Burn CD, cho phép ghi file iso ra đĩa CD mà không cần chương trình ghi đĩa CD nào khác.

NativePE
NativePE là một project được tùy biến dựa trên project gốc là NativeEx. So với PicoXP thì NativeEx có chế độ đồ họa với menu tương tự menu Start của Windows XP. NativePE được tùy biến trên NativeEx với nhiều chương trình ứng dụng vào menu Start đó như chương trình chống virus avast, chương trình Firefox,.... và khả năng thêm các script linh hoạt hơn so với NativeEx. Các script trên NativePE và NativeEx có thể dùng chung. Có thể download các script trên giao diện của WinBuilder hoặc theo link:

Link: http://thuun.boot-land.net/WinBldr/XP-2K3/Projects/

Download: NativePE_WinBuilder.rar (24.22 MB):
Link: http://www.mediafire.com/?8tbnyitwozk

Các bước thực hiện:
- Giải nén file NativePE_WinBuilder.rar, được thư mục NativePE, trong thư mục này có thư mục Projects và file WinBuilder.exe. Copy thư mục NativePE vào một thư mục, giả sử D:\WinBuilder.

- Chạy file WinBuilder.exe, xuất hiện giao diện của WinBuilder với project NativePE.



Project NativePE

- Lựa chọn tab Path để chọn đường dẫn đến thư mục chứa bộ cài Windows XP SP2, ví dụ ổ Z. Sau khi chọn, nhắp biểu tượng Play để bắt đầu việc tạo file NativePE.iso.

- Sau khi kết thúc việc tạo file NativePE.iso, WinBuilder sẽ gọi máy ảo VirtualBox (máy ảo này được cài đặt riêng) để chạy thử. Nếu file iso được tạo thành công, VirtualBox sẽ chạy và giao diện của NativePE như hình NativePE trên máy ảo VirtualBox.



NativePE trên máy ảo VirtualBox

Nhận xét:
- File NativePE.iso nằm trong mục ISO, có kích thước khoảng 70-150 Mb tùy theo các script được lựa chọn. Với lựa chọn ngầm định như trong file NativePE_WinBuilder.rar, file iso khoảng 115 MB. Kích thước này là tương đối nhỏ so với các bản WinPE khác.

- NativePE đã có giao diện đồ họa với menu dạng menu Star của Windows nên thuận tiện hơn nhiều so với PicoXP. Các ứng dụng trên NativePE chưa nhiều, nhưng cũng đủ để xử lý khi hệ thống gặp sự cố.

- Mục Drivers có driver của một số thiết bị không có trong Windows XP SP2. NativePE chưa có driver của SATA, LAN. Hiện đã có script hỗ trợ việc thêm driver cho SATA và đang được chạy thử.

- Mục Tool chứa một số công cụ hỗ trợ cho NativePE. Mục này nên sử dụng sau khi đã tạo thành công file NativePE.iso. Chú ý 2 công cụ là FileDisk WB - cho phép tạo ổ ảo từ file ISO, img; và công cụ USB Boot cho phép tạo ổ USB có thể khởi động được NativePE.

- File NativePE.iso nằm trong mục ISO, có kích thước khoảng 70-150 Mb tùy theo các script được lựa chọn. Với lựa chọn ngầm định như trong file NativePE_WinBuilder.rar, file iso khoảng 115 MB. Kích thước này là tương đối nhỏ so với các bản WinPE khác.

- NativePE đã có giao diện đồ họa với menu dạng menu Star của Windows nên thuận tiện hơn nhiều so với PicoXP. Các ứng dụng trên NativePE chưa nhiều, nhưng cũng đủ để xử lý khi hệ thống gặp sự cố.

- Mục Drivers có driver của một số thiết bị không có trong Windows XP SP2. NativePE chưa có driver của SATA, LAN. Hiện đã có script hỗ trợ việc thêm driver cho SATA và đang được chạy thử.

- Mục Tool chứa một số công cụ hỗ trợ cho NativePE. Mục này nên sử dụng sau khi đã tạo thành công file NativePE.iso. Chú ý 2 công cụ là FileDisk WB - cho phép tạo ổ ảo từ file ISO, img; và công cụ USB Boot cho phép tạo ổ USB có thể khởi động được NativePE.



Công cụ là FileDisk WB

- Số script trên NativePE không lớn. Nếu download với lựa chọn Recommended khoảng 47 MB. Thông tin này sẽ để so sánh với LiveXP.

LiveXP
LiveXP là một project với mục đích tạo một đĩa khởi động được với những chức năng cơ bản tương tự như một hệ điều hành. LiveXP cũng được tùy biến dựa trên project gốc là NativeEx. Có thể download các script trên giao diện của WinBuilder hoặc theo link:

Link: http://livexp.boot-land.net/

Download: LiveXP_WinBuilder.rar (22.84 MB):
Link: http://www.mediafire.com/?bo42etam2rm

Các bước thực hiện:
- Giải nén file LiveXP_WinBuilder.rar, được thư mục LiveXP, trong thư mục này có thư mục Projects và file WinBuilder.exe. Copy thư mục LiveXP vào một thư mục, giả sử D:\WinBuilder.
- Chạy file WinBuilder.exe, xuất hiện giao diện của WinBuilder với project NativePE.



Project LiveXP

- Lựa chọn tab Path để chọn đường dẫn đến thư mục chứa bộ cài Windows XP SP2, ví dụ ổ Z. Sau khi chọn, nhắp biểu tượng Play để bắt đầu việc tạo file LiveXP.iso.

- Sau khi kết thúc việc tạo file LiveXP.iso, WinBuilder sẽ gọi máy ảo VirtualBox (máy ảo này được cài đặt riêng) để chạy thử. Nếu file iso được tạo thành công, VirtualBox sẽ chạy và giao diện của LiveXP như hình LiveXP trên máy ảo VirtualBox.



LiveXP trên máy ảo VirtualBox

Nhận xét:
- File LiveXP.iso nằm trong mục ISO, có kích thước khoảng 50-200 Mb tùy theo các script được lựa chọn. Với lựa chọn ngầm định như trong file LiveXP_WinBuilder.rar, file iso khoảng 115 MB.

- LiveXP so với NativePE thì có nhiều script hơn. ở chế độ Compelete, số script lên tới 126 MB và LiveXP.iso được tạo khoảng 200-250MB. Tuy nhiên cần lựa chọn các script để download, sau đó chạy thử trước khi tạo để tránh những lỗi gặp phải.

- Mục Drivers của LiveXP có khá nhiều driver, trong đó có driver của SATA, LAN.

Phần 3 : Sử dụng VistaPE, khởi động ổ usb với WinPE, một số lưu ý
Sử dụng VistaPE
VistaPE được xây dựng theo hướng là một công cụ đơn giản và linh hoạt cho người quản trị và người sử dụng muốn tạo một đĩa khởi động dựa trên nền WinPE 2.0.
VistaPE là một project trên WinBuilder với nhiều script có sẵn và bạn có thể dễ dàng tùy biến nó.

Đĩa khởi động được tạo từ VistaPE sẽ có một số tính năng chính sau:
- Hỗ trợ rất nhiều driver của các thiết bị như SATA/RAID/SCSI/NIC so với các đĩa tạo từ XP (trong các project nói trên).
- Có khả năng đọc ghi các partition sử dụng hệ thống file NTFS/FAT32/FAT.
- Hỗ trợ đầy đủ việc kết nối mạng.
- Khởi động từ các file WIM.
- Cho phép khởi động từ CD/HDD/UFD/Network.
- Tương thích với Windows Vista.

Yêu cầu:
- Đĩa cài đặt Windows Vista hoặc bộ chương trình WAIK. Tuy nhiên nên dùng đĩa cài đặt Vista, vì nhiều script sẽ yêu cầu file trên đĩa này.
- VistaPE yêu cầu RAM từ 256 MB trở lên, nên sử dụng 512 MB.
- ổ cứng chứa project VistaPE yêu cầu trống khoảng 2 GB và sử dụng hệ thống file NTFS.

Download: VistaPE010_WinBuilder.rar (35.72 MB):
Link: http://www.mediafire.com/?43btnsjedgt

Các bước thực hiện:
- Giải nén file VistaPE010_WinBuilder.rar, được thư mục VistaPE010, trong thư mục này có thư mục Projects và file WinBuilder.exe. Copy thư mục VistaPE010 vào một thư mục, giả sử D:\WinBuilder.
- Chạy file WinBuilder.exe, xuất hiện giao diện của WinBuilder với project VistaPE.



Project VistaPE

- Lựa chọn tab Path để chọn đường dẫn đến thư mục chứa bộ cài Windows Vista, ví dụ ổ D:\isocd\Vista. Sau khi chọn, nhắp biểu tượng Play để bắt đầu việc tạo file VistaPE.iso.

- Sau khi kết thúc việc tạo file VistaPE.iso, WinBuilder sẽ gọi máy ảo VirtualBox (máy ảo này được cài đặt riêng) để chạy thử. Nếu file iso được tạo thành công, VirtualBox sẽ chạy và giao diện của VistaPE như hình VistaPE trên máy ảo VirtualBox.



VistaPE trên máy ảo VirtualBox

Việc thực hiện tạo đĩa khởi động VistaPE (file VistaPE.iso) từ project download sẵn là rất dễ dàng. Tuy nhiên người sử dụng cũng nên tham khảo các thông tin sau để có thể tùy biến được việc tạo đĩa khởi động.

Main Configuration:
Trong project VistaPE, script đầu tiên là Main Configuration. Script này chứa các thông tin về cấu hình chung của đĩa khởi động. Cần lưu ý các thông tin sau:

- Main Shell: Shell chính của đĩa khởi động, có thể chọn PE Shell Swapper; LiteStep; Explorer; BS Explorer; Total Commander; CMD (chế độ chỉ có lệnh). Tham khảo mục VistaPE Shell để biết thêm về các shell này.

- Boot Manager: Cho phép lựa chọn boot loader của đĩa khởi động (đĩa CD/DVD) là Standard (dùng Vista Bootloader); ISOLinux; BCDW; GRUB4DOS. ở mục này, tùy theo mục đích mà có thể chọn kiểu Boot Manager. Nếu chỉ có VistaPE mà không cần thêm các lựa chọn khác, nên chọn kiểu Standard.



Main Configuration

VistaPE Shell:
- Khác với các project trên sử dụng một shell (lớp vỏ) duy nhất dạng XP, VistaPE cho phép sử dụng nhiều shell khác nhau như LiteStep, BS Explorer, Explorer Vista, Explorer Police, Total Commander và A43 File Manager. Các shell LiteStep, BS Explorer, Explorer Vista, Explorer Police, Total Commander nằm trong thư mục Shell của project, còn A43 File Manager nằm trong thư mục Apps\File Tools.

- Khi khởi động, đĩa khởi động sẽ gọi một chương trình là PE Shell Swapper để bạn có thể lựa chọn chạy tiếp đĩa khởi động với shell nào.



PE Shell Swapper

Trên giao diện của PE Shell Swapper, bạn có thể chọn shell, độ phân giải của màn hình, thư mục cài đặt Windows,...Có thể cấu hình PE Shell Swapper ở script Main Configuration.

- Trong các shell trên, LiteStep, BS Explorer, Explorer Vista, Explorer Police là các lớp vỏ với các chương trình dạng menu, còn 2 shell Total Commander, A43 File Manager thực chất chỉ là chương trình quản lý folder, file được gọi ngay ban đâu để sử dụng.

- Các script ứng dụng (trong mục Apps) có thể được đưa vào menu của shell này mà không thấy hiển thị trên menu của shell khác.
- Có thể chọn shell chính là LiteStep.

- Chú ý rằng A43 File Manager không được cấu hình trong Main Configuration hay là Shell, mà trong file script nó có lựa chọn Add to PE Shell và Set as default shell in PE Shell. Trong script này nên bỏ chọn Set as default shell in PE Shell.



A43 File Manager Script

Run from RAM (boot.wim):
Như đã biết, Vista có sử dụng file boot.wim (trong thư mục source). Khi khởi động, toàn bộ file này sẽ được nạp lên RAM.
Khi tạo đĩa khởi động với project VistaPE, một số script có cấu hình cho phép Run from RAM. Khi chọn lựa chọn này, chương trình tương ứng với script đó sẽ được đưa vào trong file boot.wim. Nếu không lựa chọn, chương trình sẽ được đưa vào thư mục Programs trên đĩa khởi động.

VistaPE Multiboot:
Project VistaPE hỗ trợ chế độ multiboot với lựa chọn khuyến nghị là GRUB4DOS (xem mục Main Configuration). Trong file download WinPE010_WinBuilder.rar hiện không lựa chọn chế độ này, vì người viết muốn tách riêng các thành phần khi boot.

Nếu muốn đĩa khởi động có thêm nhiều thành phần khi boot, cần chọn tab Download để download thêm các thành phần tương ứng.



Multiboot với VistaPE

VistaPE có các script ở các mục OtherOS và Slax Linux là các lựa chọn boot của đĩa khởi động. Trong đó có các scrip con như bản Slax Linux - một bản LiveCD khá gọn nhẹ; Parted Magic Linux - chương trình phân chia ổ cứng dạng như Acronis Disk Director; winpe - lựa chọn khởi động với đĩa winpe dạng như ở các mục 2, 3, 4 trên ,...
Với các lựa chọn này, người dùng có thể tạo cho mình một đĩa khởi động đa dạng.

Nhận xét
- File VistaPE.iso nằm trong mục ISO, có kích thước khoảng 120-350 Mb tùy theo các script được lựa chọn. Với lựa chọn ngầm định như trong file Vista_WinBuilder.rar, file iso khoảng 160 MB. Nếu download thêm các script cho OtherOS và Slax thì kích thước file iso có thể lên đến 620MB.

- VistaPE được xây dựng trên nền WinPE 2.0 nên có những ưu điểm so với các bản WinPE 1.5, WinPE 1.6 như dễ dàng tạo đĩa khởi động UFD, khởi động qua mạng, số lượng lớn driver cho SATA/SCSI/LAN.

- Việc tạo Multiboot cho VistaPE có thể thực hiện thủ công, không qua các script có sẵn. Cách thực hiện có thể sử dụng GRUB4DOS và thực hiện luôn trên thư mục Target.

- VistaPE hiện có phiên bản thử nghiệm 0.11 theo link:
Link: http://www.vistape.net/beta

Bản thử nghiệm này có thêm nhiều tính năng nhưng kích thước file iso sau khi tạo khá lớn, khoảng 300MB trở lên.

Khởi động USB với WinPE
Khởi động từ ổ USB với VistaPE (WinPE 2.0)
Việc tạo ổ USB khởi động từ WinPE 2.0 đã được hướng dẫn chi tiết trong bài viết Khởi động từ USB với Vista MBR:
Link: http://xhtt.com.vn/index.asp?SubjectID=13498&ID=0

Trong trường hợp project VistaPE, chỉ cần copy mục Target\VistaPE ra ổ USB, sau đó thực hiện lệnh: bootsect.exe /nt60 H: /force (với H là ký tự ổ đĩa USB).

Khởi động từ ổ USB với NativePE, LiveXP (WinPE 1.5, WinPE 1.6)
Yêu cầu:
- File iso được xây dựng từ Windows XP SP2 (WinPE 1.5). Trong ví dụ này có thể lấy thư mục Target trong các project NativePE hoặc LiveXP ở trên.
- Download chương trình PeToUSB.rar: (92.11 KB)
Link: http://www.mediafire.com/?9djjbn5tzgd

Giải nén file này được một thư mục, giả sử D:\PeToUSB. Trong thư mục đó sẽ có file PeToUSB.exe.

Các bước thực hiện:
Chạy chương trình PeToUSB.exe, giao diện của chương trình như sau:



Giao diện chương trình PeToUSB

Trên giao diện của chương trình PeToUSB thực hiện các lựa chọn sau:

- Chọn loại ổ là USB Removable. Có thể chọn Disk Format nếu thấy cần thiết.
- Chọn đường dẫn đến thư mục extract nội dung file winpe.iso hoặc chọn đường dẫn đến mục Target trong project LiveXP hoặc NativePE.
- Chọn Enable File Copy
- Nhắp nút Start để PeToUSB bắt đầu thực hiện công việc.

PeToUSB sẽ tạo phần khởi động cho ổ USB và copy các file từ thư mục nguồn và chuyển đổi thành các thư mục chính là minint; PROGRAM FILES; và các file ntldr; ntdetect.com; winbom.ini trên ổ USB.



Các file trên ổ USB của WinPE 1.5

Sau các bước trên, ổ USB có thể khởi động được với NativePE hoặc LiveXP.

Một số lưu ý:
- Việc sử dụng WinBuilder tương đối phức tạp. Đối với những người mới sử dụng, nên download và thực hiện theo các project có sẵn. Sau khi tạo và chạy thử thành công trên máy ảo hãy download các script khác.

- Đối với project LiveXP, NativePE, VistaPE có một số script (có chứa các file chương trình) sẽ bị các chương trình antivirus, antispyware cảnh báo, điều này có thể ảnh hưởng đến việc tạo đĩa khởi động, hoặc làm đĩa khởi động lỗi. Nên loại bỏ các script này để kiểm tra mức độ nguy hiểm của các script đó. Các project được upload trên đều đã được kiểm tra bằng công cụ AntiVir PersonalEdition Classic.

Khởi động máy tính từ PXE

PXE (Preboot eXecution Environment hoặc Pre-eXecution Environment) là một môi trường cho phép khởi động máy tính bằng việc sử dụng card mạng cùng với RAM. Việc khởi động đó sẽ không phụ thuộc vào những thiết bị của máy tính như CD, harddisk và các hệ điều hành đã được cài đặt.



PXE bao gồm 2 thành phần: PXE Client và PXE Server. Thành phần PXE Client (PXE boot code) nằm trên card mạng. Các server, laptop hầu hết đều cho phép khởi động máy tính qua mạng với PXE boot code. Các mainboard có card mạng onboard cũng hầu hết có thành phần này. Card mạng có PXE boot code cũng được coi là một thiết bị khởi động giống như các thiết bị khởi động khác: ổ mềm, ổ cứng, ổ CD/DVD, ổ USB. PXE Server là phần mềm chạy trên một máy tính nào đó trong mạng LAN. Phần mềm này hỗ trợ các giao thức TFTP, DHCP.

Có thể xây dựng PXE Server để cung cấp việc cài đặt hệ điều hành Windows /Linux cho các máy tính mà không cần đĩa CD/DVD theo cách thức cài đặt truyền thống, hoặc cũng có thể xây dựng một mạng hoạt động không cần ổ cứng.

Khi máy tính gặp sự cố không khởi động được, người ta thường nghĩ đến các đĩa CD/DVD hoặc USB có thể khởi động được để khắc phục sự cố, phục hồi dữ liệu. Có một giải pháp khá hiệu quả là xây dựng một PXE Server trên một máy tính khác trong cùng mạng LAN và trên máy gặp sự cố, sẽ khởi động bằng card mạng và truy cập vào PXE Server để sử dụng các chương trình được cài sẵn trên đó. Bài viết này sẽ hướng dẫn cách thức xây dựng một PXE Server với nhiều lựa chọn khi khởi động để hỗ trợ người quản trị khắc phục các máy tính khi gặp sự cố. Các menu lựa chọn khi khởi động sẽ như sau:


Các menu khi khởi động từ card mạng

1. Cấu hình PXEServer với TFTPD32 và PXELinux
TFTPD32 là một chương trình nhỏ gọn, miễn phí và đã bao gồm DHCP server, TFTP server nên rất thuận tiện cho việc xây dựng một PXE Server. PXELinux là một gói phần mềm trong các phần mềm như syslinux, isolinux. Với PXELinux, bạn có thể tạo nhiều lựa chọn khi khởi động từ PXE.
Các phần mềm TFTPD32 và PXELinux đều được cài đặt và cấu hình trên PXE Server.

Hệ thống thử nghiệm
- PXE Server: Windows XP SP2 hoặc Windows 2003 Server.
- PXE Client: Máy tính có hỗ trợ khởi động qua mạng với PXE boot code, chọn máy có card mạng Intel onboard. RAM của máy tính này yêu cầu từ 384MB trở lên để có thể chạy được hết tất cả các lựa chọn trong bài viết.

Để người đọc thực hiện được việc xây dựng PXE Server, có thể download sẵn các file cần thiết trong file nén PXEServer_Base.rar (18.62 MB):

Link: http://www.mediafire.com/?91drthtt1nh

Sau khi download, giải nén được thư mục PXEServer. Copy thư mục này vào ổ C. Trong thư mục C:\PXEServer có các thành phần sau:
- Chương trình TFTPD32 bao gồm các file tftpd32.exe và tftpd32.chm nằm trong C:\PXEServer.
- Các file pxelinux.0, menu.c32, chain.c32, reboot.c32, memdisk đều thuộc gói phần mềm syslinux (bao gồm syslinux, isolinux, pxelinux). Các file cấu hình (dạng text) của PXELinux nằm trong thư mục TFTPRoot là: pxelinux.cfg\default; image\others.conf; linux\linux.conf.
- Thư mục TFTPRoot\boot có sẵn các file khởi động qua PXE của WinPE 2.0 (file WIM). Hai file CreateBCD.cmd, bcdedit.exe được dùng để tạo BCD cho các file WIM.
- Thư mục TFTPRoot\Image với các file image có đuôi .gz để khởi động máy tính với memdisk.

Chạy chương trình TFTPD32 bằng cách nhắp đúp vào file C:\PXEServer\tftpd32.exe. Giao diện của TFTPD32 như hình dưới:


Giao diện chương trình TFTPD32

Trên giao diện của TFTPD32, chọn các thông số như sau:
- Current Directory: thư mục gốc của TFTP, chọn C:\PXEServer\TFTPRoot.
- Server interface: Địa chỉ IP của card mạng đang được sử dụng. Trong ví dụ này card mạng đang sử dụng địa chỉ IP 192.168.1.101/255.255.255.0.
Chọn tab DHCP server để thiết lập các thông số sau:
- IP pool starting address: IP bắt đầu của máy sử dụng PXE. Thiết lập IP cùng lớp với IP của Server Inteface đang được chọn. Mục này, ví dụ 192.168.1.0
- Size of pool: số IP dùng cho DHCP của PXEServer, ví dụ chọn 20.
- Boot File: lựa chọn file khởi động của PXELinux là pxelinux.0. File này nằm trong thư mục C:\PXEServer\TFTPRoot. Do đã chọn mục gốc của TFTP là C:\PXEServer\TFTPRoot, nên ta chỉ cần gõ tên file pxelinux.0 vào ô này.
- Mask: 255.255.255.0
IP và Mask sẽ phụ thuộc vào lớp mạng đang sử dụng.

Sau đó nhắp nút Setting, xuất hiện hộp thoại TFTPD32 Settings.


TFTPD32 Settings

Trong hộp thoại Settings của TFTPD32, cần chú ý các thông số ở các nhóm Global Settings, Advanced TFTP Options như hình trên. Sau đó nhắp OK để kết thúc việc thiết lập, quay trở lại giao diện chính của TFTPD32. Khi đó PXE Server đã sẵn sàng cho việc sử dụng.

Khi kết nối từ PXE Client, trên máy cài PXE Server, trên TFTPD32 có thể theo dõi được các thông tin về việc truyền file qua giao thức TFTP, thông tin địa chỉ IP của PXEClient.


Truyền file qua TFTP

Trên hình trên, có thể theo dõi được kích thước file truyền qua TFTP, tốc độ truyền và địa chỉ IP (được cấp qua DHCP của TFTPD32) của máy đang kết nối đến.

Có thể chọn tab Log viewer để theo dõi việc kết nối đến PXEServer để có thể xử lý khi kết nối không thành công.



2. Khởi động máy tính từ card mạng với PXE boot code
Trên các laptop, server, hoặc các máy tính lắp ráp ngày nay đều có card mạng có PXE boot code cho phép khởi động qua mạng. Có thể vào BIOS của máy tính để kiểm tra tính năng PXE đã được cho phép (enable) hay chưa.

Để khởi động máy tính từ PXE, thông thường khi bật máy tính bấm phím F12, sẽ xuất hiện danh mục Boot Device của máy tính, khi đó chọn Boot Device là card mạng.


Network Booting

Trên hình trên, khi máy tính khởi động từ card mạng, máy tính sẽ dò tìm DHCP Server của PXE Server trong LAN, khi dò thấy tại IP 192.168.1.101 (địa chỉ của máy cài TFTPD32), PXE Client sẽ gửi yêu cầu và nhận IP do DHCP của PXE Server cung cấp. Sau đó sẽ nạp file pxelinux.0, để gọi menu.c32 nạp file cấu hình của pxelinux là pxelinux.cfg\default và đưa ra menu với các lựa chọn như hình dưới (thư mục pxelinux.cfg nằm trong mục gốc của TFTP Server là C:\PXEServer\TFTPRoot):


Menu chính của PXEServer

Trên menu chính của PXEServer có 10 lựa chọn như sau:

- 0. Boot from Harddisk: Khởi động từ ổ cứng của máy tính. Có thể dùng notepad để mở file pxelinux.cfg\default và tìm các thông tin sau:
# Boor from Harddisk
LABEL LOCAL
MENU LABEL ^0. Boot from Harddisk
KERNEL chain.c32 hd0 1
Trong cấu hình để khởi động từ harddisk, cần chú ý đến dòng "Kernel chain.c32 hd0 1". Với việc sử dụng chain.c32 (của syslinux) cùng với tham số "hd0 1" sẽ cho phép gọi phân vùng 1 của ổ cứng thứ nhất (hd0) để khởi động. Có thể thay đổi các giá trị để khởi động từ ổ cứng khác cũng như phân vùng khác trên ổ cứng.
- Các mục 1-7 sẽ được hướng dẫn chi tiết ở phía dưới, mục "8. Boot Linux Tools" được hướng dẫn như một lựa chọn thêm để có thể sử dụng một số bản Linux nhỏ.
- 10. REBOOT: Cho phép reboot lại máy tính. Khi mở file cấu hình pxelinux.cfg\default, sẽ có các thông tin sau:
# Reboot
LABEL REBOOT
MENU LABEL ^10. REBOOT
KERNEL reboot.c32
Trong cấu hình trên, sử dụng kernel là reboot.c32 để máy tính có thể khởi động lại.
- 9. Boot Other Tools: Khi chọn lựa chọn này, pxelinux sẽ gọi file cấu hình others.conf trong thư mục Image để hiển thị ra menu Boot Other Tools.


Menu Boot Other Tools

Menu "Boot Other Tools" cho phép máy tính khởi động từ các chương trình như Active Boot Disk (phiên bản DOS), HDD Regenerator, Ghost, Smart Boot Manager. Các chương trình này đã được kèm theo trong file nén và được lưu thành các file .gz ở thư mục Image. Cách thức cấu hình sẽ được hướng dẫn ở mục Memdisk.

Như vậy với file nén PXEServer_Base.rar download ở trên, người đọc đã có thể sử dụng được nhưng lựa chọn cơ bản của PXE. Tuy nhiên còn có nhiều lựa chọn chưa có, và các phần dưới sẽ hướng dẫn cách thức tạo thêm những lựa chọn đó.

3. Memdisk
Memdisk là một file nằm trong thư mục TFTPRoot\Image. Memdisk được các chương trình quản lý boot như syslinux, isolinux, pxelinux, grub sử dụng để nạp một file image của đĩa mềm, của ổ cứng.
Memdisk với PXELinux hỗ trợ các dạng file image của đĩa mềm chuẩn (kích thước tối đa là 2880 K) và hỗ trợ chuẩn nén gzip. Tham khảo ví dụ sau:
# Active Boot Disk
LABEL ACTIVE
MENU LABEL ^0. Active Boot Disk V2.1 DOS
KERNEL image/memdisk
APPEND initrd=image/active.gz
File active.gz là file active.img được nén theo chuẩn gzip để giảm kích thước file khi truyền qua mạng. Trên Windows, có thể dùng chương trình quản lý file quen thuộc là Total Commander để nén file .img thành file .gz.


Total Commander nén file .gz

Cũng có thể sử dụng memdisk với các file image của ổ cứng dạng thực (raw) như các file .dsk. Trong thư mục TFTPRoot\Image có file dos32.gz là file dos32.dsk được nén chuẩn gzip. File dos32.dsk là một file image của ổ cứng 32 MB có sẵn hệ điều hành DOS và các chương trình như GHOST, NTFS4DOS,... Tham khảo cách sử dụng trong file pxelinux.cfg\default như sau:
# Boot DOS98
LABEL DOS98
MENU LABEL ^6. Boot DOS98 (Ghost, NTFS, ...)
KERNEL image/memdisk
APPEND initrd=image/dos32.gz harddisk
Trong ví dụ này, chú ý là tham số harddisk đặt ở dòng APPEND. Nếu không dùng tham số harddisk, memdisk sẽ hiểu đó là một file image của floppy và file .dsk không thể khởi động được. Đây là điểm khác biệt khi sử dụng memdisk so với syslinux và grub.

Với việc sử dụng file .dsk, có thể tạo thêm lựa chọn để khởi động với đĩa Hiren V9.3 theo các bước sau:
- Download file hiren93.rar (62.36 MB): http://www.mediafire.com/?fw2uj241znh
- Giải nén file hiren93.rar, được file hiren93.dsk. Dùng Total Commander để nén file hiren93.dsk thành file hiren93.gz (file này cũng có thể dùng được với GRUB4DOS). Copy file hiren93.gz vào thư mục TFTPRoot\Image.
- Xác nhận lại các thông tin sau trong file pxelinux.cfg\default:
# Boot HIREN V93
LABEL HIREN
MENU LABEL ^7. Hiren Boot Disk V9.3
KERNEL image/memdisk
APPEND initrd=image/hiren93.gz harddisk

Như vậy khi lựa chọn khởi động file image với memdisk, máy khởi động qua PXE sẽ download file image thông qua giao thức TFTP và máy tính sẽ khởi động với file image này. Xem một ví dụ khởi động với file image dưới đây:


Khởi động với file image qua PXE

4. PXELinux với một số bản Linux
Các bản Linux được hướng dẫn ở đây là Acronis Disk Directory, Acronis True Image, Paragon Partition Manager. Đó là những bản Linux khá quen thuộc đối với người dùng Windows.

Để tạo các lựa chọn khởi động qua PXE với Acronis, thực hiện theo các bước sau:
- Download file acronis_01.rar (19.79 MB): http://www.mediafire.com/?6zmypb8ojcb
- Giải nén file acronis_01.rar, được các file kernadd.dat, ramdadd.dat, kernati.dat, ramdati.dat. Copy các file này vào trong thư mục TFTPRoot\acronis (nếu thư mục này chưa có, hãy tạo nó).
- Xác nhận lại các thông tin sau trong file pxelinux.cfg\default
# Acronis Disk Director 10
LABEL AcronisDD10
MENU LABEL ^3. Acronis Disk Director 10
KERNEL acronis/kernadd.dat
APPEND initrd=acronis/ramdadd.dat quiet ramdisk_size=32768 vga=788 init=/sbin/init sysboot /active

# Acronis True Image 9
LABEL AcronisTI9
MENU LABEL ^4. Acronis True Image 9
KERNEL acronis/kernati.dat
APPEND initrd=acronis/ramdati.dat quiet ramdisk_size=32768 vga=788 init=/sbin/init sysboot /active

Để tạo lựa chọn khởi động qua PXE với Paragon Hard Disk Manager 2008, thực hiện theo các bước sau:
- Download file ParagonHDManager.rar (42.25 MB): http://www.mediafire.com/?82czzymhwl3
- Giải nén ParagonHDManager.rar được file .iso. Dùng WinImage mở file .iso và extract 2 file là vmlinuzp và initrd.gz vào thư mục TFTPRoot\PPM (nếu chưa có thư mục này, hãy tạo nó).
- Xác nhận lại các thông tin sau trong file pxelinux.cfg\default:
# Paragon Hard Disk Manager
LABEL PPM2008
MENU LABEL ^5. Paragon Hard Disk Manager 2008
KERNEL PPM/vmlinuzp
APPEND initrd=PPM/initrd.gz vga=788 ramdisk_size=42000
Khi khởi động qua PXE, Paragon Hard Disk Manager có giao diện như sau:


Pargon Hard Disk Manager 2008

Chú ý:
- Tham số vga=788: giá trị 788 tương ứng với màn hình 800x600 16-bit mầu, giá trị vga=791 sẽ tương ứng với màn hình 1024x768 16 bit mầu.
- Tham số ramdisk_size là dung lượng RAM dành cho file initrd tương ứng. ramdisk_size phải lớn hơn kích thước của file initrd.
- Có thể tham khảo cách thức thêm lựa chọn khởi động từ một số bản Linux như RIP, DSL trong file Linux\linux.conf.

Như vậy với lựa chọn khởi động với một số bản Linux, cần lưu ý 2 file là kernel và initrd. Các file này có thể tìm thấy trên các đĩa live của chương trình. Ban đầu PXE sẽ nạp kernel vào RAM trên máy tính, sau đó sẽ nạp initrd vào ramdisk và gọi chương trình trong ramdisk để sử dụng.

5. PXELinux với WinPE 1.5, 1.6
- Download file pxelinux_winpe.rar (57.91 MB):
Link: http://www.mediafire.com/?amddgzfyn8k

- Giải nén file này được các file NTLDR, startrom.0, ntdetect.com, winpe.iso, winnt.sif. Copy 5 file vào TFTPRoot.
- Xác nhận lại các thông tin sau trong file pxelinux.cfg\default:
# Boot from Winpe
LABEL WinPE15
MENU LABEL ^1. Boot from Winpe
KERNEL startrom.0


PXE nạp WinPE.ISO

Chú ý:
- startrom.0 chính là file khởi động qua PXE của WinPE 1.5, 1.6.
- File winpe.iso trên được tạo để có thể khởi động theo kiểu RAM với việc sử dụng 2 file ramdisk.sys và SETUPLDR.BIN từ Windows 2003 SP1. Việc tạo file này có thể tham khảo bài viết về WinBuilder với dự án NativePE. Tuy nhiên việc tạo file dạng này dễ lỗi và dẫn đến không sử dụng để khởi động qua PXE được. Nên tham khảo mục sau để sử dụng các file WIM.
- File winpe.iso được thêm các driver cho card mạng, điều khiển ổ cứng để nhận nhiều loại card mới cũng như các ổ cứng SATA.
- File NTLDR được đổi tên từ file SETUPLDR.BIN.
- Winnt.sif có chứa tên file winpe.iso. Có thể dùng notepad để thay đổi tên file khi cần thiết.

6. PXELinux với file WIM
Việc khởi động với file WIM từ CD, USB, PXE, Harddisk đều thực hiện dễ dàng hơn so với các phiên bản WinPE trước đó.

* Quá trình khởi động WIM File qua PXE
Việc khởi động file WIM (WinPE 2.0) qua PXE được mô tả như hình trên. File Bootmgr.exe nằm trong TFTPRoot, file pxeboot.0, boot.sdi và các file cần thiết để khởi động qua PXE nằm trong thư mục TFTPRoot\boot. Các file WIM có thể đặt ở thư mục khác, tuy nhiên để thuận tiện có thể đặt trong TFTPRoot\boot. Tùy theo tên file WIM, số lượng file WIM mà ta sẽ phải tạo file BCD nằm trong TFTPRoot\boot tương ứng.

Trong phần này, sẽ hướng dẫn cấu hình khởi động với 03 file WIM sau:
- Vista Recovery: Copy file boot.wim trong thư mục SOURCES trên đĩa DVD cài đặt Vista vào thư mục TFTPRoot\boot, sau đó đổi tên thành recovery.wim.
- Download Active Boot Disk theo link sau:
Link:
Part 1 (50Mb): http://www.mediafire.com/?5z9hltzheiz
Part 2 (50Mb): http://www.mediafire.com/?8cmnqmmetzz
Part 3 (34MB): http://www.mediafire.com/?bdx3fxmjzez

Sau khi download, dùng Winrar giải nén được file .iso. Sử dụng WinImage để mở file .iso và extract file SOURCE\boot.wim này vào thư mục TFTPRoot\boot. Đổi tên file boot.wim thành file activebd.wim.
- Download file undelete.rar (94.21 MB):

Link: http://www.mediafire.com/?ca2spjfv1gg

Sau khi download, giải nén, ta được file undelete.wim. Copy file này vào thư mục TFTPRoot\boot.

Tạo file BCD với các tham số sau:
- Tên 3 file wim là recovery.wim, activebd.wim, undelete.wim và được copy vào thư mục boot.
- File boot.sdi nằm trong thư mục boot

Việc tạo file BCD không thuận tiện khi chỉ gõ lệnh bcdedit. Trong C:\PXEServer\TFTPRoot đã có sẵn 2 file là bcdedit.exe và CreateBCD.cmd. File CreateBCD.cmd đã có các lệnh bcdedit để thực hiện việc tạo file boot\BCD một cách tự động. Dùng notepad để mở file này, chú ý các dòng sau:
set BCD-File=boot\BCD
set WIM-FileA=recovery.wim
set WIM-FileB=activebd.wim
set WIM-FileC=undelete.wim
Nếu đặt tên file wim khác, chỉ cần thay đổi ở tham số tương ứng.


File CreateBCD.cmd

- Xác nhận lại các thông tin sau trong file pxelinux.cfg\default:
# Boot from WIM files
LABEL WinPE20
MENU LABEL ^2. Boot from WIM files
KERNEL boot/pxeboot.0

Khi khởi động máy tính với PXE, trong menu chính, chọn "2. Boot from WIM files", máy tính sẽ gọi BCD mới được tạo trên để đưa ra menu có 3 lựa chọn khởi động như hình dưới.


Menu BCD

Khi chọn một trong 3 lựa chọn trên PXEClient sẽ download các file WIM thông qua TFTP vào RAMDISK, kết thúc việc download, sẽ chạy file này.


Download file WIM qua TFTP

Nhận xét
Các lựa chọn khởi động qua mạng với memdisk, khởi động với winpe 1.5, 1.6 , khởi động với file WIM (winpe2.0), khởi động với 1 số bản Linux đều có chung 1 điểm là sử dụng RAM (ramdisk) để nạp toàn bộ file tương ứng. Do đó nó có những ưu điểm, nhược điểm sau:

- Kích thước file nạp lên ramdisk không được quá lớn. Nếu RAM của máy tính khoảng 384-512 MB thì nên tạo các file nạp lên RAM đó khoảng 200Mb.
- Download qua mạng với TFTP nhanh hay chậm? Với file khoảng 200 Mb, việc download trong các mạng LAN hiện nay với card mạng, switch 10/100 Mb đều rất nhanh.
- Sau khi nạp lên ramdisk, máy Client sẽ có thể hoạt động độc lập mà không phụ thuộc vào PXE Server. Do hoạt động trên RAM, nên chạy khá nhanh.

Với việc sử dụng TFTPD32 không cần cài đặt, PXE Server có tính portable. Sau khi tạo PXE Server, có thể lưu cả thư mục C:\PXEServer và copy sang bất kỳ máy nào trong mạng để có thể sử dụng.

Với việc sử dụng pxelinux, bạn dễ dàng tạo được các lựa chọn khởi động cho máy client bằng cách chỉnh sửa các file config tương ứng.

Mẹo vặt sử dụng USB




Thiết bị này cũng là công cụ lây lan virus rất phổ biến nhưng chỉ cần một cách mở khác bạn có thể ngăn chặn được. Trang trí USB theo phong cách riêng của mình bằng biểu tượng và hình nền cũng là một chiêu thú vị.
1. Hạn chế sự lây lan của virus
Theo nguyên tắc hoạt động của một số virus lây lan qua đường USB thì chúng sẽ nhanh chóng tạo trong đó một số file như autorun.inf hoặc desktop.ini để gọi một số tập tin thực thi đi kèm.
Tuy nhiên, có một điều virus không thể nào tự chạy được khi ta vừa cắm USB vào máy. Thao tác nhấp đúp vào ổ đĩa flash trong My Computer sẽ giúp các file virus được kích hoạt và bắt đầu lây lan sang máy tính.
Chỉ một thao tác đơn giản click chuột phải USB và chọn Explorer là ta có thể chặn được bước xâm nhập này của virus vào máy. Các tập tin autorun hoàn toàn mất tác dụng.
Bước tiếp theo ta chỉ cần mở autorun.inf có trong USB bằng Notepad để xem tên những file virus và xóa chúng đi. Ta xóa luôn cả file autorun.inf.
2. Nên tắt USB trong máy trước khi rút ra
Thao tác này sẽ giảm sự xung đột điện với chip nhớ của USB. Việc rút USB ra cách đột ngột sẽ cắt đứt bất ngờ nguồn điện đang cấp cho USB, quá trình truyền dẫn dữ liệu đang diễn ra bị ngăt quãng làm ảnh hưởng đến chip nhớ.
Nhưng nhiều trường hợp việc rút USB luôn gặp thông báo sau:
Thông báo thường thấy khi tắt USB mà vẫn còn file đang sử dụng trên nó
Nhiều người vội vã nên không thể kiên trì với dòng thông báo này đành rút nó thiết bị này ra khỏi máy. Trường hợp này có thể do virus đang chạy trong ổ flash hoặc bạn còn đang mở một file nào đó trên USB. Kiểm tra xem các chương trình đang thực thi như office, trình ứng dụng…
Nếu qua bước này cũng vẫn gặp thông báo thì nguy cơ bạn nhiễm virus rất cao hoặc cổng giao tiếp USB của máy đã bị lỗi.
Eject USB nhiều lần nếu việc rút USB gặp lỗi
Không nên vội vã rút ra ngay mà click phải ổ USB chọn Eject vài lần. Câu thông báo hiện ra bạn nhấp Continue và rút nó ra. Dữ liệu có thể bị mất nhưng USB sẽ không bị sốc điện.
Cảnh báo dữ liệu sẽ bị mất nếu rút USB ra. Bạn chọn Continue để tiếp tục.

3. Làm đẹp cho cửa sổ USB nhưng cũng là công cụ báo động virus hữu hiệu.
Trước tiên, ta cần nắm vững các chức năng cơ bản của một số tập tin sau:

- autorun.inf: thiết lập thông tin về icon, virus thường tấn công chỉnh sửa file này để điều khiển kích hoạt virus chạy.

- desktop.ini: thiết lập desktop, virus cũng hay dùng file này để gọi 1 số file thực thi chứa virus.

- doan.ico: file biểu tượng của USB.

- bgusb4.jpg: file hình nền.

- Bạn cũng có thể tạo thêm một file sao lưu thiết lập autorun.inf để phòng khi bị virus ví dụ này đặt tên là bk-autorun.inf.
Màn hình cửa sổ USB được cài đặt hình nền riêng

Để tạo biểu tượng (icon) cho USB, bạn cần thiết kế sẵn một file biểu tượng có đuôi .ico. Icon có thể vẽ bằng phần mềm hỗ trợ hoặc tìm trên mạng những hình ưu thích.
Bạn dùng ứng dụng Notepad tạo một file có tên autorun.inf đặt tại thư mục gốc của USB có nội dùng như sau:

[AutoRun]
icon=doan.ico
Trong đó, doan.ico là file biểu tượng do bạn tự chọn hoặc tải về. Doan.ico cũng phải đặt ngoài thư mục gốc USB. Như vậy, là bạn có thể phân biệt USB của mình với biểu tượng riêng ở đầu khi cắm vào máy.
Làm hình nền (background) cho USB:
Tương tự, bạn cũng tạo một file có tên desktop.ini đặt cùng vị trí như các tập tin trên với nội dung sau:

[ExtShellFolderViews]
{BE098140-A513-11D0-A3A4-00C04FD706EC}={BE098140-A513-11D0-A3A4-00C04FD706EC}
[{BE098140-A513-11D0-A3A4-00C04FD706EC}]
Attributes=1
IconArea_Image=bgusb4.jpg
IconArea_Text=0x030291F
[.ShellClassInfo]
ConfirmFileOp=0

bgusb4.jpg là file ảnh ở định dạng JPG chọn làm hình nền.
4. Bạn nên tạo USB của bạn có 1 icon, để có thể dễ dàng nhận biết được USB của mình có bị nhiễm virus hay chưa.
USB có tên bodaudinh với biểu tượng ở đầu
Khi đã tạo cho USB của mình 1 icon riêng, thì bạn đã fải dùng đến file autorun.inf. Và khi bạn nhiễm virus, thì thường virus sẽ chỉnh sửa cái file autorun.inf thiết lập icon của bạn rồi thay vào đó bằng những đoạn mã để gọi file virus thực thi. Khi bạn cắm USB vào máy mà không thấy có biểu tượng quen thuộc thì khả năng bị nhiễm virus trong USB là rất cao.
Trần Nguyễn (Ảnh chụp màn hình)
 Một số hình ảnh về USB:

 
 
 
 
 
         
 
 
 
 
         
 
 
 
 
         
 
 
 
 

Huesoft (Sưu tầm ảnh)